Đại
tướng Cao Văn Viên và những ngày cuối của
Việt Nam Cộng Ḥa
Giao Chỉ –
San Jose, Sep 12, 2003
Suốt
28 năm qua, quân dân miền Nam đă trải qua các hoàn
cảnh bi đát đau thương và luôn luôn tự
hỏi về nguyên nhân thất bại mau chóng của VNCH
trong những ngày của tháng 4-1975.
Đại tướng Cao Văn Viên năm nay 83 tuổi,
sống hoàn toàn cô đơn trong một viện cao niên
tại miền Đông Hoa Kỳ, cũng có các suy tư
khắc khoải của riêng ông.
Trong phần Lời Bạt của một tác phẩm
vừa xuất bản 2003, vị Đại Tướng
Tổng Tham Mưu Trưởng cuối cùng của Quân
lực VNCH đă giăi bày rất nhiều điều quan
trọng: Về vai tṛ của ông và nhiệm vụ của
Bộ Tổng Tham Mưu. Sự liên hệ cá nhân giữa
Tướng Cao Văn Viên và Tổng thống Nguyễn Văn
Thiệu. Tại sao ông xin từ chức và tại sao
Tổng thống Thiệu không chấp thuận. Những
diễn tiến quân sự liên quan đến việc di
tản Quân Đoàn II và Quân Đoàn I. Ông cũng viết
về việc chuẩn bị thuốc độc cho chính ḿnh
và sau cùng ông đă ra đi vào lúc nào.
Phần quan trọng là Đại tướng Cao Văn Viên
bác bỏ một số tin tức liên quan đến ông và
Bộ Tổng Tham Mưu trong một tác phẩm đă
được Tiến sĩ Nguyễn Tiến Hưng,
vị cố vấn đặc nhiệm của ông
Thiệu xuất bản gần 20 năm về trước.
Để có thể theo dơi dễ dàng những diễn
tiến theo thời gian, chúng tôi xin liệt kê tài liệu
thứ tự như sau:
Thứ nhất: Ngay sau khi miền Nam thất thủ 1975,
bắt đầu từ năm 1976, Trung Tâm Quân Sử
của Lục Quân Hoa Kỳ đă mời các sĩ quan cao
cấp của Việt – Miên – Lào viết về kinh
nghiệm của cuộc chiến Đông Dương. Đại
tướng Cao Văn Viên cùng 5 vị tướng và Đại
Tá VNCH đă hoàn tất 16 tác phẩm bằng Anh ngữ
về các đề tài khác nhau. Trong đó có cuốn the
Final Collapse ấn hành năm 1983. Tài liệu biên khảo vào
thời gian 1976 hoàn toàn có tính cách nghiên cứu các
diễn tiến, nhưng chưa đủ các dữ
kiện đầy đủ như hiện nay. Trong đó
tác giả ghi rằng không muốn nói nhiều đến
chuyện cá nhân. Cuốn The Final Collapse nguyên tác Anh ngữ
phổ biến hạn chế và chưa từng dịch ra
Việt ngữ.
Thứ hai: Khởi sự từ năm 1977, Tiến sĩ
Nguyễn Tiến Hưng nguyên là cố vấn đặc
biệt của Tổng thống Thiệu bắt đầu
soạn tài liệu để hoàn tất tác phẩm the
Palace File. Chủ đề của tác phẩm viết
về những năm cuối cùng tuyệt vọng của
Việt Nam Cộng Ḥa. Tác giả viết bằng các
dữ kiện trực tiếp ghi nhận được
qua vai tṛ giao thiệp với chính phủ Mỹ và các
bức thư trao đổi với các Tổng Thống Hoa
Kỳ liên quan đến cuộc chiến Việt Nam.
Trong tác phẩm này Tiến sĩ Hưng có đề
cập đến nhiều giới chức gồm cả
Bộ Tổng Tham Mưu và Đại tướng Cao Văn
Viên, The Palace File nguyên tác Anh ngữ xuất bản năm
1986 và ấn bản Việt ngữ xuất bản năm
1987. Có một số dữ kiện trong tác phẩm này cũng
cần phải được duyệt lại v́ thực
sự tác giả hoàn tất vào đầu thập niên 80
nên không đủ các tin tức như hiện nay.
Cuốn Palace File bản Anh ngữ và Hồ Sơ Mật
Dinh Độc Lập bản Việt ngữ được
phát hành tương đối rộng răi và đă
phổ biến những điều mà Đại tướng
Cao Văn Viên cho là không đúng và ông ghi nhớ từ 17
năm qua.
Thứ ba: Cho đến năm nay 2003, do cơ duyên đặc
biệt Đại Tướng giao cho một chuyên viên
sử học là ông Nguyễn Kỳ Phong chuyển ngữ
cuốn The Final Collapse thành tác phẩm Việt ngữ
với tựa đề Những Ngày Cuối Của
Việt Nam Cộng Ḥa.
Trong tác phẩm Việt ngữ vừa phát hành này có
nhiều ghi chú đặc biệt của dịch giả và
của chính tác giả nhằm làm sáng tỏ những
điểm mà nguyên tác The Final Collapse năm 1976 chưa
đề cập đến.
Và đặc biệt là những lời đính chính
mạnh mẽ của tướng Cao Văn Viên liên quan
đến The Palace File của Tiến sĩ Nguyễn
Tiến Hưng mà ông đă lưu tâm từ năm 1986 khi
sách này phát hành.
+ + +
Đại
tướng Cao Văn Viên nguyên là Tư Lệnh Nhảy Dù,
Tư Lệnh Quân Đoàn III và chức vụ sau cùng là
Tổng Tham Mưu Trưởng. Có lúc ông kiêm cả
Tổng Trưởng Quốc Pḥng. Vợ của ông đă
qua đời nhiều năm trước. Ông có người
con gái là giáo sư luật khoa Lan Cao đă thành danh và có
gia đ́nh riêng. Ông sống một ḿnh trong viện cao niên
tại miền Đông. Tuy sức khỏe suy yếu nhưng
tinh thần vẫn minh mẫn và c̣n giọng nói vẫn
mạnh mẽ với 83 tuổi.
Dịch giả Nguyễn Kỳ Phong được ông Cao Văn
Viên tin cậy giao cho việc chuyển ngữ cuốn The
Final Collapse là một chuyên viên sử học tại Hoa
Kỳ. 28 năm trước ông là một sinh viên trẻ,
có thể chưa biết nhiều về cuộc chiến và
VNCH. Nhưng suốt thời gian tại Hoa Kỳ ông đă
nghiên cứu và đọc hầu hết các tài liệu
về chiến tranh Việt Nam bằng Anh ngữ và
Việt ngữ. Ông Phong sưu tầm các tác phẩm,
hồi kư đă xuất bản và cả các tài liệu
phổ biến hạn chế trong các thư khố đặc
biệt của Hoa Kỳ liên quan đến Việt Nam.
Năm 2001, Nguyễn Kỳ Phong đă xuất bản tác
phẩm đặc biệt tựa đề: Người
Mỹ và chiến tranh Việt Nam. Một cuốn sách làm
ngạc nhiên độc giả lưu tâm đến đề
tài này về sự uyên bác của tác giả. Hiện nay
người ta đang chờ đợi cuốn số 2
của ông dự trù sẽ xuất bản một ngày
gần đây.
Sau đây là phần trích dẫn từ tài liệu của
Đại tướng Cao Văn Viên đối với
những sự kiện chưa từng được nói
tới gần 30 năm qua.
Theo nguyên văn tài liệu, danh từ tác giả ở
đây thay cho chữ tôi và xin hiểu đây là Đại
tướng Cao Văn Viên.
1. Trước hết về vấn đề đại tướng
Cao Văn Viên xin từ chức Tổng tham mưu trưởng.
Ông viết như sau:
Đại tướng Cao Văn Viên: Trong những năm
1970 và 1971, tác giả đă đệ đơn xin
Tổng thống Thiệu cho về hưu ít nhất là 3
lần. Lư do là v́ tác giả đă ở chức vụ
Tổng Tham Mưu Trưởng quá lâu đă đủ thâm
niên quân vụ cùng sức khỏe kém. Lư do tác giả hành
động như vậy v́ vào khoảng giữa năm
1970, sau một buổi họp với Đại tướng
Creighton Abrams (tư lệnh MACV) ông ta cho biết, theo tin Ṭa
Đại Sứ Hoa Kỳ, Tổng thống Thiệu có ư
định cho Trung tướng Đỗ Cao Trí thay thế
tác giả. Chờ đợi măi không thấy lệnh thay
thế, tác giả cảm thấy ḿnh không c̣n được
“sủng ái” nên đă xin về hưu.
Trong thời điểm đó, các đối lập chính
trị và tay chân thân tín của họ bị loại hay vô
hiệu hóa. Với đa số dân biểu, nghị sĩ
thân chánh quyền trong Quốc Hội cùng sự thành
lập đảng Dân Chủ, ông Thiệu ở vào
thế mạnh. Ngoài ra một số phụ tá trẻ
của ông nêu ư kiến nên thay thế các phần tử mà
họ cho là già nua và quan liêu. Họ thường nói,
muốn có một căn nhà tốt cần thay thế các
viên gạch cũ hay các bộ phận vô dụng, và
nếu cần, hủy bỏ luôn căn nhà cũ.
+ + +
2. Trải qua nhiều năm, vẫn một câu hỏi
được nêu lên là tại sao Tổng Thống
Thiệu lại không cho phép đại tướng Viên
từ nhiệm, chính ông Cao Văn Viên cũng tự
hỏi như vậy.
Đại tướng Cao Văn Viên: Tại sao ông
Thiệu không thay tác giả như đă có ư định?
Có thể ông Thiệu nghĩ rằng tác giả không có
tham vọng chính trị, và trong quá khứ không phản ông
Diệm nên cố giữ lại để có sự ổn
định trong quân đội. Nhưng những ǵ tác
giả nghĩ chỉ là giả thuyết mà thôi. Ở vào
thế tiến thoái lưỡng nan, ở vào một hoàn
cảnh mập mờ, tác giả không thể nào hăng
say phục vụ như trước nữa. Nhưng v́ lương
tâm nghề nghiệp, tác giả vẫn làm việc như
thường, chờ ngày thay thế.
+ + +
3. Trong tác phẩm của ông, đại tướng Cao Văn
Viên có dành 1 phần giải thích về nhiệm vụ
của bộ tổng tham mưu đặc biệt là lănh
vực điều hợp các quân đoàn trên lư
thuyết. C̣n trên thực tế ông giải thích thêm
bắt đầu từ thời điểm 1973 như sau.
Đại tướng Cao Văn Viên: Khi Hiệp Định
Ba Lê 1973 được kư kết, quốc sách “Bốn Không”
ra đời, lúc mà tất cả hoạt động quân
sự có ảnh hưởng đến chính trị, th́ các
buổi họp bất thường hay hàng tháng với các
tư lệnh Quân Đoàn, Quân Khu, cùng với các tư
lệnh Binh Chủng như Không Quân và Hải Quân...
được diễn ra trong Dinh Độc Lập, thay v́
ở Bộ Tổng Tham Mưu như thường lệ.
Buổi họp được đặt dưới
quyền chủ tọa của Tổng thống Thiệu như
là Tổng Tư Lệnh Tối Cao của Quân Lực
Việt Nam Cộng Ḥa. Từ đó Tổng thống
Thiệu hoàn toàn lấy mọi quyết định, và ra
lệnh thẳng cho các nơi. Như vậy, Tổng
thống Thiệu đă đạt được thế
thượng phong tuyệt đối, tập trung mọi
quyền Hành Pháp, Lập Pháp và quân đội vào một
mối duy nhất.
+ + +
4. Viết về những ngày bi thảm của tháng 4-1975
cho đến khi đại tướng Dương Văn
Minh lên nhận chức, tướng Cao Văn Viên cho
biết.
Đại tướng Cao Văn Viên: Sau cuộc rút lui
thất bại ở quân đoàn II và quân đoàn I, và khi
t́nh h́nh quân sự trở nên bi đát, tác giả có xin bác
sĩ Phạm Hà Thanh (Cục Trưởng Cục Quân Y)
thuốc độc (loại Cyanid), v́ biết chắc
chắn nếu bị bắt sẽ bị cộng sản hành
hạ một cách tàn bạo. Bác sĩ Thanh sau khi đi
cải tạo về, hiện nay vẫn c̣n sống ở
ngoại ô Sài G̣n.
Tối Chủ Nhật 27 tháng 4, sau khi Quốc Hội
biểu quyết trao quyền lại cho ông Dương Văn
Minh, v́ thời gian quá gấp rút, theo hệ thống quân
giai, tác giả tŕnh miệng với Trung tướng
Trần Văn Đôn, đang là Tổng Trưởng
Quốc Pḥng trong Nội Các của Thủ tướng
Nguyễn Bá Cẩn, tŕnh lên Tổng thống Trần Văn
Hương nguyện vọng được về hưu
của tác giả đă xin từ năm năm về trước.
Tổng thống Hương biết rơ chuyện này nên
đă kư sắc lệnh cho tác giả về hưu. Ông
Nguyễn Thạch Vân, phụ tá tổng thống, hiện
đang sống bên Pháp, biết rơ chuyện này.
Tác giả không hợp tác với tướng Minh v́ ông ta
có ư định giết tác giả trong cuộc đảo
chánh ngày 1 tháng 11-1963. Tác giả cũng không thể
phục vụ cho một chính phủ liên hiệp, và lư do
quyết định nhất là đă ở chức vụ
này quá lâu (gần 10 năm), sức khỏe kém và đă
xin về hưu 3 lần rồi. Khi biết đă
được phép giải ngũ, tác giả liên lạc
với Pḥng Tùy Viên Quân Sự Hoa Kỳ (DAO) để xin
di tản ra Đệ Nhất Hạm Đội. Khi rời
Việt Nam, tác giả mặc thường phục v́ đă
về hưu.
+ + +
5. Đề cập đến chuyện cũ, đại tướng
Viên nói về thời gian gặp tướng Minh trong
kỳ đảo chính ngày 1 tháng 11 năm 1963 như sau.
Đại tướng Cao Văn Viên: Trưa ngày 1 tháng
11-1963, khi tŕnh diện Tổng Bộ Tham Mưu (BTTM) để
nhận lệnh hành quân (lúc đó tác giả là Đại
Tá, Tư Lệnh Lữ Đoàn Nhảy Dù) tác giả
được đưa lên gặp tướng Dương
Văn Minh thay v́ tướng Trần Thiện Khiêm (Tham Mưu
Trưởng Liên Quân) như thường lệ.
Tướng Minh hỏi: “Tụi Moi đảo chánh, Toa nghĩ
sao?”
Tác giả trả lời: “Đảo chánh là một
quốc gia đại sự, sao tới giờ phút này Trung
Tướng mới cho tôi hay?”
Đó là nguyên văn câu hỏi và câu trả lời, không
hơn không kém. Trong khi đó, một sĩ quan tùy viên
của tướng Minh chĩa súng Carbine vào lưng tác
giả. Vài phút sau, Đại tá Đỗ Mậu (Giám
Đốc An Ninh Quân Đội) kêu tác giả lên đài
phát thanh tuyên bố theo phe đảo chánh. Tác giả
trả lời là không có ǵ để tuyên bố cả. Tác
giả bị giam giữ tại BTTM và chỉ thoát chết
trong đường tơ kẽ tóc nhờ cảm t́nh
của một số Tướng Tá (theo phe đảo chánh)
và sự can thiệp của vợ ḿnh.
+ + +
6. Nói đến liên hệ của ông với tổng
thống Nguyễn Văn Thiệu, tướng Cao Văn Viên
nhắc lại giai đoạn 1974 và 1972 như sau:
Đại tướng Cao Văn Viên: Hai năm 71 – 72 là
khúc quanh quan trọng trong đời sống quân ngũ
của tác giả. Như đă nói phần trước, tác
giả đăû xin Tổng thống Thiệu về hưu ba
lần nhưng không được nên phải làm việc
như thường tuy kém phần hăng say như năm năm
về trước. Vai tṛ của BTTM vẫn không thay đổi
trong thời gian này.
Cuối năm 1971 là năm bầu cử Tổng Thống.
Lần này Tổng thống Thiệu ra ứng cử
với ông Trần Văn Hương. Các liên danh khác
bị loại ra v́ không đủ điều kiện
ấn định bởi luật bầu cử, nên báo chí
rêu rao đây là màn “độc diễn” của Tổng
thống Thiệu.
Trước ngày bầu cử, sau một buổi họp quân
sự với các Tư lệnh Quân Đoàn, Tư lệnh
các Quân chủng Không và Hải quân, TTMT, và Tổng trưởng
Quốc pḥng Nguyễn Văn Vỹ, Tổng thống
Thiệu hỏi các tướng lănh về cuộc bầu
cử sắp tới. Các tướng lănh có mặt đều
nhiệt liệt ủng hộ liên danh Thiệu – Hương.
Khi được hỏi, tác giả trả lời là
Tổng Thống đă có quyết định, nên không có
ư kiến ǵ thêm.
+ + +
7. Một trong các vấn nạn then chốt của việc
sụp đổ nhanh chóng tháng 4-1975 là vấn đề
quân viện và nhu cầu tái phối trí các đơn
vị. Trong chức vụ Tổng Tham Mưu Trưởng
QLVNCH, Đại tướng Cao Văn Viên có viết
lại như sau:
Đại tướng Cao Văn Viên: Vào khoảng tháng
1-1974, Bộ Tổng Tham Mưu được phía Hoa
Kỳ thông báo viện trợ quân sự trong tài khóa 74 –
75 bị cắt giảm 300 triệu Mỹ kim. Tổng
Cục Tiếp Vận phụ trách việc cung cấp quân
trang, quân dụng, xe cộ, vũ khí và đạn dược
cho toàn thể quân lực VNCH đă nghiên cứu một
kế hoạch để đối phó với t́nh h́nh
mới. Một cách tổng quát, kế hoạch nhận
định là, chương tŕnh quân viện bị cắt
giảm chỉ có thể thỏa măn một quân đội
với số quân ít hơn; và số quân đó chỉ có
khả năng pḥng thủ một lănh thổ tương
xứng của VNCH mà thôi. Kế hoạch này rất
hợp lư trên thực tế. Nhưng Tổng thống
Thiệu, với tư cách Tổng Tư Lệnh Tối Cao
Quân Lực VNCH, đă đề ra đường lối
quốc gia “Bốn Không” (một trong nhũng cái không
đó là không cắt đất cho cộng sản).
Thấy kế hoạch của Tổng Cục Tiếp
Vận trái với quốc sách trên nên tác giả không
chỉ thị tŕnh lên Tổng Thống một cách chính
thức. Trung tướng Đồng Văn Khuyên, Tham Mưu
Trưởng Liên Quân kiêm Tổng Cục Trưởng
Tổng Cục Tiếp Vận, được phép tŕnh
miệng kế hoạch trên cho Tổng Thống. Theo
lời tướng Khuyên tŕnh lại, sau khi nghe thuyết
tŕnh, Tổng Thống Thiệu không có chỉ thị ǵ thêm,
và Tổng Thống cũng không có chỉ thị nào
trực tiếp cho tác giả. V́ những lư do trên, kế
hoạch bị bỏ qua một bên.
+ + +
8. Tiếp theo, Đại tướng Viên viết thêm trong
trang 130 gồm cả phần chú thích. Ông cho biết:
Đại tướng Cao Văn Viên: Tổng thống
Thiệu b́nh thản tiếp tục độc thoại
về chính trị địa lư của miền Nam, nhưng
khi nói đến Vùng I và II, ông không tỏ vẻ lạc
quan hay tự tin. Chỉ vào vùng Cao Nguyên trung phần,
Tổng thống Thiệu nói Ban Mê Thuột quan trọng hơn
hai tỉnh Kontum và Pleiku nhập lại, v́ tài nguyên và dân
số của Ban Mê Thuột. Miền duyên hải của Vùng
II cũng quan trọng với tiềm năng dầu hỏa
chứa đựng ở thềm lục địa. Về
Vùng I, ư kiến của Tổng thống Thiệu là
“giữ được phần nào th́ giữ.” Ông phác
họa kế hoạch pḥng thủ ở Vùng I bằng
những tuyến cắt ngang duyên hải từ Bắc
xuống Nam. Nếu chúng ta có đủ lực lượng,
Tổng thống Thiệu nói, chúng ta sẽ giữ đến
Huế và Đà Nẵng. Nếu không được, chúng
ta sẽ tái phối trí quân lại ở Chu Lai, hay thấp
hơn là Tuy Ḥa. Kế hoạch này, Tổng thống
Thiệu nói tiếp, cho chúng sắp đặt lại
khả năng để có nhiều hy vọng giữ
được những vùng đất quan trọng cho
miền Nam trường tồn như một quốc gia
vững mạnh.
Sau này tác giả mới biết, trước buổi
họp ngày 11 tháng 3-1975 tại Dinh Độc Lập,
Tổng thống Thiệu đă có trong tay 3 đề
nghị về việc này: Đề nghị số 1 vào năm
1974, tướng Đồng Văn Khuyên, tham mưu trưởng
liên quân kiêm Tổng Cục Trưởng Tổng Cục
Tiếp Vận, đệ tŕnh lên Tổng Thống ư
niệm phải thu hẹp lănh thổ VNCH thế nào tương
xứng với sự cắt giảm viện trợ quân
sự như chúng ta đă thấy. Thứ 2: Thiếu tướng
John Murray thuộc pḥng tùy viên quốc pḥng Hoa Kỳ
(Defense Attache Office-Vietnam) có cung cấp cho Tổng thống
Thiệu qua Ṭa Đại Sứ Mỹ một sơ đồ
tương tự như Tổng Cục Tiếp Vận
đề nghị. Thứ 3: Chuẩn tướng Úc Đại
Lợi Ted Sarong cũng đề nghị qua một giới
chức Phủ Tổng Thống một kế hoạch tương
tự.
+ + +
9. Sau đây là đoạn quan trọng nhất Đại
tướng Viên kể lại những quyết định
lịch sử của hội nghị cao cấp nhất
tại Dinh Độc Lập vào ngày 13 tháng 3-1975 về
việc tái phối trí:
Đại tướng Cao Văn Viên: Như thường
lệ, Tổng thống Thiệu chủ tọa buổi
họp dưới sự có mặt của Thủ tướng
Khiêm, tác giả, và Trung tướng Đặng Văn
Quang. Sau khi tướng Trưởng chấm dứt tường
tŕnh về t́nh h́nh Vùng I, Trung tướng Nguyễn Văn
Toàn, Tư Lệnh Vùng III, được mời vào báo cáo
vùng trách nhiệm của ông. Theo tướng Toàn, t́nh h́nh
Vùng III tương đối yên tĩnh, không có biến
chuyển quan trọng xảy ra.
Sau tướng Trưởng và Toàn, đến lượt
Tổng thống Thiệu lên tiếng. Ông phân tích t́nh h́nh
chung và những khó khăn VNCH đối đầu về
vấn đề quân viện. Tổng thống Thiệu thú
nhận ông không tin Hoa Kỳ sẽ can thiệp dù cho CSBV
mở cuộc tổng tấn công vào miền Nam. Ông
tỏ ư thông cảm về t́nh trạng thiếu thốn,
khó khăn ở các quân đoàn. Ông cho biết trong
thời gian gần đây ông ra nhiều quân lệnh nhưng
ông biết các tư lệnh gặp nhiều khó khăn khi
thi hành.
Trong hoàn cảnh như vậy, Tổng thống Thiệu
tuyên bố, quân đội không thể làm ǵ khác hơn là
thay đổi chiến lược, tái phối trí lực
lượng để giữ các vùng đất ph́ nhiêu,
có tài nguyên. Nếu chúng ta phải bỏ một số
rừng núi cho cộng sản để giữ lại lănh
địa màu mỡ, nhiều khoáng sản gồm có
thềm lục địa, th́ chúng ta cũng chấp
nhận. Thà vậy hơn là đứng chung một chánh
phủ liên hiệp với cộng sản. Vùng đất
mà Tổng thống Thiệu nói đến là Đà
Nẵng. Về vấn đề tái phối trí quân –
chuyện này tự Tổng thống Thiệu nghĩ ra
một ḿnh, chưa hề tiết lộ trong một
buổi họp nào – Sư đoàn Nhảy dù sẽ
rời Vùng I, theo sau là Sư đoàn TQLC, nếu t́nh h́nh
pḥng thủ của Vùng I không bị ảnh hưởng
khi hai đơn vị trên rút đi. Rút hai đơn
vị trên khỏi Vùng I cho phép quân đội tái lập
lại các lực luọng tổng trừ bị. Cùng
với những cuộc rút quân khỏi Vùng I, Tổng
thống Thiệu cho phép tướng Toàn rút quân khỏi
An Lộc, và sử dụng lực lượng đó vào
những kế hoạch pḥng thủ nơi nào cần
nhất ở Vùng III.
Sau khi Tổng Thống chấm dứt th́ đến lượt
tác giả. Với tư cách Tổng Tham Mưu Trưởng,
tác giả nhắc các tư lệnh quân đoàn phải
cẩn thận khi rút quân. Buổi hợp ngày 13 tháng 3
chấm dứt sau ba tiếng rưỡi đồng
hồ, mặc dù các tham dự viên đă không bàn căi dài
ḍng.
Như vậy buổi hợp ở Dinh Độc Lập vào
ngày 13 tháng 3-1975 đă được thuật lại rơ ràng
ở trên. Trong dịp đó Tổng thống Thiệu
đă cho hai vị tư lệnh quân đoàn I và III (tướng
Trưởng và tướng Toàn) biết ư định
sắp xếp lại lănh thổ VNCH sao cho phù hợp
với sự cắt giảm viện trợ quân sự. Tuy
nhiên, Tổng thống Thiệu chưa cho lệnh rút quân
ở bất cứ nơi nào vào lúc đó, trừ
việc bỏ An Lộc ở Vùng III. Buổi họp ở
Cam Ranh ngày 14 tháng 3 xảy ra sau khi Ban Mê Thuột mất, và
tại Cam Ranh Tổng thống Thiệu ra lệnh tái
phối trí lực lượng của Quân đoàn II để
chiếm lại Ban Mê Thuột.
+ + +
10. Đoạn sau đây Đại Tướng nói rơ thêm
về việc ông được phép từ chức và ra
đi:
Đại tướng Cao Văn Viên: Trước khi
từ chức, Tổng thống Trần Văn Hương
đă kư một sắc lệnh giải nhiệm tác
giả chức vụ Tổng Tham Mưu Trưởng. Trong
khi chờ đợi tân Tổng thống Dương Văn
Minh chính thức bổ nhiệm Tổng Tham Mưu Trưởng
mới, tác giả chỉ định Trung tướng
Đồng Văn Khuyên, Tham Mưu Trưởng BTTM, xử
lư thường vụ chức Tổng Tham Mưu Trưởng.
Sau đó tác giả được di tản ra Hạm
Đội 7 vào trưa thứ Hai, 28 tháng 4-1975.
+ + +
11. Sau cùng một trong các chi tiết rất nhỏ nhưng
có thể rất quan trọng giữa 2 cuốn sách
xuất bản cách nhau 17 năm chúng tôi xin ghi lại:
Trong cuốn hồ sơ dinh Độc Lập trang 557 tác
giả Nguyễn Tiến Hưng đă viết về
buổi họp các tướng lănh với tổng
thống Thiệu (nguyên văn) như sau khi ông đề
cập đến vấn đề tín nhiệm.
Thiệu kể lại rằng không có một ai nói một
lời và như vậy là đă rơ là họ không muốn
ông ngồi lại ghế tổng thống nữa. Giữa
lúc đó Thiệu tuyên bố từ chức và để
phó Tống Thống Trần Văn Hương lên làm
tổng thống. Tướng Cao Văn Viên theo Thiệu
về văn pḥng nước mắt chảy quanh và nói: Thưa
tổng thống, tôi không bao giờ nghĩ sẽ có ngày hôm
nay.
Đại tướng Cao Văn Viên rất bất b́nh
về đoạn văn ngắn ngủi này. Sự
thực do ông Thiệu kể lại cho ông Hưng ra sao, câu
trả lời đă đem xuống thuyền đài.
17 năm sau khi những trang sách của ông Hưng
được in ra. Trong cuốn sách xuất bản năm
2003, phần ghi chép của trang 219, đại tướng
Cao Văn Viên viết nguyên văn như sau: “tác giả
(tức đại tướng Viên ghi chú của người
dẫn) nhớ rơ ràng, sau buổi họp tác giả ra
về ngay không theo tổng thống Thiệu về pḥng làm
việc của ông ta. Đây là lần chót tác giả
gặp ông Thiệu trước khi mất nước. Tác
giả không khi nào rưng rưng nước mắt và nói
không thể tưởng tượng có thể xảy ra ngày
hôm nay.
Đây chỉ là chuyện của ông Nguyễn Tiến Hưng
viết trong The Palace File. Mối liên quan giữa tác giả
và Tổng thống Thiệu hoàn toàn đặt trên căn
bản quân vụ, nên không có những giờ phút cởi
mở tâm t́nh.
+ + +
Qua các tài liệu trích dẫn được tŕnh bày, chúng
tôi muốn ghi lại và gửi đến quư vị các nét
chính của lịch sử đă diễn ra qua các nhân
vật khác nhau về những ngày cuối của VNCH.
Mỗi ngày trôi qua, chúng ta có thể quên dần chuyện
cũ, nhưng các dữ kiện mới lại xuất
hiện. Càng nhiều tin tức th́ sự suy luận
lại phải thêm dè đặt. Chúng tôi xin ghi lại các
tin tức lấy từ tài liệu được chính
thức xuất bản của các tác giả để chúng
ta cùng suy ngẫm. Chân lư trong lịch sử sẽ
chẳng bao giờ toàn vẹn và sự lên tiếng
muộn màng của Đại tướng Cao Văn Viên có
thể sẽ là lời nói sau cùng về những nỗi
bất b́nh mà ông cảm nhận từ nhiều năm nay
cần được giải tỏa. Có lẽ tiến sĩ
Nguyễn Tiến Hưng cũng cần xem lại để
phân biệt những ǵ ông trực tiếp nh́n thấy,
với những ǵ ông nghe nói lại dù là nghe được
từ Tổng Thống về những giọt nước
mắt mà Đại tướng Cao Văn Viên chia sẻ
với Trung tướng Nguyễn Văn Thiệu. Đôi
khi những chuyện nhỏ như vậy có xảy ra hay
không, cũng là những chi tiết quan trọng của
lịch sử.
Giao Chỉ – San Jose