Lược-Sử Tổ-Chức Hải-Quân Việt-Nam Cộng-Hoà

Vũ Hữu San


Bối-cảnh Tổng-quát

Gần một thế-kỷ sau khi Hải-Quân Việt-Nam thời nhà Nguyễn bị tan-ră trước quân xâm-lăng người Pháp  , một Hải-Quân của Quốc-gia Việt-Nam lại ra đời.

Trong bối-cảnh đổi thay sau Thế-chiến II, các sử-gia nhận ra hai biến-chuyển lớn lao đă tác-động lên số-phận của nhân-loại :

(1) nỗi bất-hạnh của 1/3 nhân-loại v́ sự bành-trướng của "Bức Màn sắt Cộng-Sản Stalinist.  và

(2) cơ-hội lớn cho các nước Á-Phi dành lại quyền tự-do dân-chủ. 

Người Việt không những đă phải chịu nỗi bất-hạnh v́ ách Cộng sản mà c̣n mất đi luôn cái cơ-hội được làm con dân một nước dân-chủ. Trong khi cả trái đất dă im tiếng súng th́ tại Việt-Nam, chiến-tranh vẫn tiếp-diễn và c̣n bành-trướng khủng-khiếp khắp cả Bắc Trung Nam, kéo dài hàng thế-hệ.

Vào khoảng 1952, quân-đội Pháp hiện-diện ở Việt-Nam.  Tuy vậy ảnh-hưởng của thực-dân Anh, Pháp đă suy-yếu hẳn trên khắp các thuộc-địa. Những luồng gió mới "quốc-gia độc-lập, thể-chế dân-chủ, sinh-hoạt tự-do" thổi mạnh trên toàn-thể thế-giới.

Sau khi cướp chính-quyền 1945, giới lănh-đạo Cộng-Sản Việt-Nam chính-thức đặt quyền-lợi của Đảng lên trên quyền-lợi quốc-gia dân-tộc. Chúng ra mặt phục-vụ cho tập-đoàn Cộng-Sản Mạc-Tư-Khoa - Bắc-Kinh. Cộng-Sản-Việt-Nam bắt đầu xung-phong thi-hành nghiă-vụ "Quốc-tế Vô-sản"  . trong nước, chúng tiêu-diệt mọi phần-tử quốc-gia, đưa chiêu-bài giai-cấp đău-tranh, tàn-sát phú-nông địa-chủ, loại bỏ người trí-thức, và nhất là dập khuôn đi theo Trung-Cộng, kẻ thù truyền-kiếp của dân-tộc.

Các Lực-lượng Vơ-trang kháng Pháp

Khi bộ-đội Việt-Minh thành-h́nh, các đảng-phái quốc-gia cũng đă thành-lập được những lực-lượng vũ-trang. Ban đầu các lực-lượng này đă kết-hợp với chính-phủ Việt-Minh để thành-lập một chính-phủ liên-hiệp, nhưng Việt-Minh bởi bản-chất chỉ là một đảng cộng-sản trá h́nh, nên đă không có ḷng thành-thực để tạo thế đại-đoàn-kết dân-tộc trong việc chống giặc. Việt-Minh chỉ tạo-dựng một sự kết-hợp giả-tạo theo từng giai-đoạn. Không những vậy, chúng c̣n t́m cách tiêu-diệt các đảng-phái đối-lập để nắm quyền lănh-đạo độc-tôn, đảng-trị...  

Quân-đội Việt-Minh tuy mang danh-nghiă Quân-đội Nhân-dân nhưng chỉ là công-cụ sai-phái của đảng Cộng-Sản. Hiến-Pháp của Việt-Nam Dân-Chủ Cộng-Hoà và sau này của Cộng-Hoà Xă-hội Chủ-Nghiă Việt-Nam viết ra đă quy-định rơ ràng: Quân-đội nhận lệnh trực-tiếp từ Đảng.  

Nhiều thanh-niên Việt-Nam yêu tự-do, ôm mộng hải-hồ, có tinh-thần quốc-gia dân-tộc, không chấp-nhận Cộng-Sản độc-tài đảng-trị; đă gia-nhập Hải-Quân Việt-Nam.

Lúc đó, t́nh-trạng chính-trị tại các nước Anh, Pháp rất bất-ổn. Tại Pháp-Quốc, nhiều chính-phủ theo nhau đổ liên-tiếp. Khi người Pháp nhận-thức được sức mạnh của tinh-thần quốc-gia dân-tộc, họ đă phải trả một giá đắt là rút lui ra khỏi những nước Đông-Dương cũng như tại các thuộc-địa khác ở Bắc-Phi. Cho dến 1958,  Tổng-Thống Pháp De Gaulle phải chính-thức nh́n-nhận quyền tư-trị của các dân-tộc xưa kia thuộc Pháp. Hải-Quân Việt-Nam, một số từng hành thủy, nay có nhiều dịp xuất-ngoại, tiếp-xúc với với thế-giới bên ngoài nên tầm nh́n có phần rộng răi và ư-thức về tinh-thần dân-tộc   tương-đối cao hơn phần lớn đồng-bào trong nước.

Với truyền-thống hàng-hải chảy mạnh trong huyết-quản kể từ những ngày Lạc-Việt viễn-dương đi khắp nẻo biển trời, những chàng trai ấy đă hợp-sức nhau nối lại ḍng Hải-sử đứt đoạn của tiền-nhân, xây-dựng nên một Hải-Quân hùng-mạnh (quân-số đứng vào hàng thứ 9 trên thế-giới) Và đặc-biệt vào năm 1974, tuy biết rằng yếu thế, không đủ lực-lượng, Hải-Quân Việt-Nam Cộng-Hoà cũng cương-quyết đứng lên chống Trung-Cộng  xâm-lấn hải-biên.

30 tháng 4 năm 1975, mảnh đất Tự-do cuối cùng ở Miền Nam bị Cộng-Sản chiếm nốt. Thành bại lẽ thường, người lính mất biển mất nước mất tàu, đành di-tản ly-hương để giữ lấy cuộc sống tự-do, khỏi làm kiếp tù-nhân cho Cộng-Sản bạo-tàn.

Hiện-diện trên một khúc quanh của lịch-sử, Hải-Quân Việt-Nam cho dù đă mất, nhưng đương-nhiên đă đóng trọn vẹn một vai tṛ. Đó là v́ trách vụ, mà người lính biển không thể nh́n thấy cái sợi dây truyền-thống hàng-hải của Ông Cha bị đứt đọan mà không t́nh-nguyện đem thân làm cái gạch nối cho thế-hệ mai sau.

Nh́n về những thành-quả 23 năm Hải-Quân-Việt-Nam Cộng-Hoà để t́m hiểu, chúng tôi xin tạm chia khoảng thời-gian đó thành 3 giai-đoạn như sau:

giai-đoạn h́nh-thành (1952-1958) và những khó khăn dựng lại cờ Tổ-Quốc

giai-đoạn phát-triển (1959-1967) cho dù thiếu-thốn phương-tiên.

giai-đoạn bành-trướng (1968-1975) bộc-phát theo nhu-cầu chiến-trường và đột-ngột bị khai-tử.

Giai-Đoạn 1 - H́nh-thành

Sự Thành-lập Hải-Quân-Việt-Nam

Nhu-cầu cuộc chiến Quốc-Cộng đưa đến sự thành-lập Hải-Quân Việt-Nam. Sau nhiều đ́nh-hoăn, Hải-Quân-Việt-Nam được khai-sinh ngày 6-3-1952 bởi dụ số 2.  

Cũng như Không-Quân chỉ-huy bởi Ban Không-Quân, Hải-Quân-được chỉ-huy đầu tiên bởi Ban Hải-Quân (Section Marine), sau đổi thành Pḥng Hải-Quân (Département Marine) thuộc Bộ Tổng Tham-Mưu Quân-Đội Quốc-Gia Việt-Nam.

Hải-Quân-Việt-Nam không những đă sinh sau, mà c̣n lớn chậm hơn so với Lục-Quân và cả Không-Quân nữa.  Có nhiều lư lẽ mà nguyên-nhân chính là v́ người Pháp không thực-tâm muốn cho Quốc-gia-Việt-Nam có một Hải-Quân-riêng rẽ:

- Nghị-định thành-lập Hải-Quân-Việt-Nam đă bị hoăn lại nhiều lần trước khi được chính-thức ban-hành.

- Khi đă bắt buộc phải cho Hải-Quân-Việt-Nam ra đời, người Pháp c̣n cản-trở sự lớn mạnh của tổ-chức này. Đáng lẽ hai loại Dương-Vận-Hạm và Khu-Trục Hộ-Tống-Hạm  theo chương-tŕnh đă được chuyển-giao ngay từ 1955, nhưng người Pháp cố ư lờ đi. Trong bảng đề-nghị của Đô-Đốc Ortoli tháng 4 năm 1951,  c̣n có cả việc thành-lập một phân-đoàn Thủy-phi-cơ cho Hải-Quân-Việt-Nam vào năm 1955. Những sự việc này không bao giờ xảy ra cho đến khi quân-đội Pháp rút lui hết.

- Tàu bè và nhiều trang-cụ bị nhân-viên Pháp phá-hoại trước khi trao cho Việt-Nam.

- Trong nghi-lễ chính-thức, tuy Chiến-hạm được chuyển-giao, nhưng Hạm-trưởng vẫn là Sĩ-Quan người Pháp và Quốc-kỳ cũng vẫn là Quốc-kỳ Pháp. Tranh-chấp có liên-hệ tới danh-dự quốc-gia như vậy xảy ra khá lâu và chỉ chấm-dứt hẳn vào năm 1956.

Khó-khăn về nhân-sự lúc ban đầu

. Ngoài dă-tâm của người Pháp. những khó-khăn về nhân-sự Việt-Nam cũng đáng kể là nguyên-do đă gây trở ngại cho Hải-Quân lúc sơ-khai.

Nếu không kể Hải-Quân thời Hùng-Vương / Đông-Sơn và Hải-Quân nhà Thục thời Cổ-Loa-Thành,  xuất-hiện hàng thiên-niên-kỷ trước Công-nguyên, th́ riêng Hải-Quân nước ta thời-kỳ tự-chủ kể từ khi Ngô-Vương-Quyền dựng nước, cũng đă đă tồn-tại suưt-soát một ngàn năm. Tuy vậy v́ họa thực-dân Pháp kéo dài gần trăm năm, lực-lượng này bị tan ră và gián-đoạn. Vào đầu thập-niên 1950 khi gặp thời-cơ tốt, Hải-quân được tái-sinh. Tuy vậy không thể trong khoảnh-khắc, Quốc-gia ta có đầy đủ ngay cán-bộ và đoàn-viên để điều-hành tàu thuyền chiến-đấu.  

- 1950 - Một số nhỏ thanh niên Việt Nam được tuyển-mộ và gởi sang Pháp, học ngắn hạn tại trường Sĩ-Quan Hải-Quân Brest. Năm đó, thời-tiết của miền Bắc nước Pháp trở nên thật giá lạnh, khoá-sinh Việt không đủ sức để chịu-đụng khổ nhọc khi huấn-luyện ngoài khơi. Sau cùng tất cả dành bỏ dở khoá học và không có Sĩ-Quan nào tốt-nghiệp.  

- 1951 - Dự án về một Trung-tâm Huấn-luyện Hải-Quân Việt-Nam được khởi- xướng. Cũng trong năm này, có chương-tŕnh dự-trù thành-lập hai đơn vị chiến đấu, nhưng kết-quả không có đơn-vị Hải Quân nào thực-sự thành-h́nh.

- Cùng năm 1951, tiếp theo đề-nghị Ortoli đă nói ở trên, Bộ-Trưởng Hải-quân Pháp lại c̣n rộng răi hơn nữa trong chương-tŕnh trang-bị chiến-hạm cho Việt-Nam. Bộ này dự-trù:

-chuyển-giao 1 Hộ-tống-hạm loại Chamois class, 647 tấn năm 1952.

-kiến-trúc thêm hai Khu-trục Hộ-tống-hạm mới, loại Le Corse class, 1290 tấn và 4 Trục-lôi-hạm loại Sirius class 365 tấn cho Việt-Nam tiếp theo sau đó.

Đô-đốc Ortoli nhân đà của Bộ-trưởng Hải-Quân, xin thêm cho Việt-Nam ngân-khoản xây cất cơ-sở huấn-luyện Đoàn-viên và huấn-luyện Sĩ-quan. Ông đề-cập luôn cả việc kiến-trúc chiến-hạm tại chỗ.  

Khi Thống-tướng De Lattre nhận quyền chỉ-huy, Ông tập-trung quyền-hành lại,  không tán-thành một Hải-Quân Việt-Nam riêng rẽ. Sau này đến lượt chính Ortoli cũng ngần ngại thi-hành đề-nghị trước của ḿnh. Hải-quân Pháp bắt đầu gặp trở-ngại việc tuyển-mộ người cho Hải-quân của họ, nếu như Hải-Quân Việt-Nam thành-lập và bành-trướng. 

V́ những biến-chuyển như thế, từ khi Dụ số 1 ra đời qua suốt hai năm 1950 và 1951, chương-tŕnh không tiến-triển. Đến tháng 11-1951, công cuộc xây-cất Trung-tâm Huấn-luyện Hải-Quân Nha-Trang mới lại bắt đầu.

Nhân-viên và Trang-bị lúc sơ-khởi.

Năm 1952, Trung-tâm Huấn-luyện Nha-Trang dự-tuyển 350 thanh-niên Việt-Nam cho các khoá tập-sự Hạ-sĩ-quan và Đoàn-viên, 50 cho các khoá Sinh-viên Sĩ-quan. Đây thực-sự là những thành-phần đầu-tiên của Hải-Quân Việt-Nam.

Các khoá chuyên-nghiệp Cơ-khí, Giám-lộ, Vô-tuyến... kéo dài 6 tháng trên bờ, sau đó xuống tà dể thực-tập. Một số Sinh-viên được dự-trù gởi sang thụ-huấn tại "l'Ecole Navale de Brest". 

Ngày 1 tháng 10 năm 1952, khóa 1 Sĩ-Quan Hải-Quân măn-khóa. Khóa này được huấn-luyện trên chiến-hạm Pháp, gồm có 6 Sĩ-quan ngành chỉ-huy và 3 Sĩ-quan ngành cơ-khí.

Các khóa huấn-luyện đầu tiên tại Nha-Trang dự-trù mở từ tháng 9-1952.

Ngày 1 tháng 11 năm 1952, Khóa 2 Sĩ-Quan Hải-Quân khai-giảng tại Trung Tâm Huấn Luyện Hải Quân Nha Trang gồm 12 Sinh-viên Sĩ-quan ngành chỉ-huy và 4 Sĩ-quan ngành Cơ-khí. Khóa này măn-khóa vào tháng 5 năm 1953.

Ngày 12 tháng 7 năm 1952, Trung-Tâm Huấn- Luyện Hải-Quân Nha-Trang bắt đầu Khóa 1 Hạ-sĩ-quan với 25 khóa- sinh và Khóa 1 Thủy-thủ chuyên-nghiệp gồm 150 khóa-sinh. 

Cho tới năm 1953, Việt-Nam vẫn chưa có tàu. Các tân Sĩ-Quan và Thủy-thủ Việt-Nam tập-sự trên các chiến-thuyền của Pháp. Một số Sĩ-Quan được thi tuyển giữa năm 1952, du-học tại Pháp.

Cuối năm 1953, Hải-Quân-Việt-Nam có hai đoàn Tiểu-đĩnh.

Hai đoàn Tiểu-đĩnh này là hai Hải-đoàn Xung-phong đầu tiên, đó là: Hải-đoàn Xung-phong, Cần Thơ và Hải-Đoàn Xung-phong Vĩnh-Long, được tạm đặt tên như vậy v́ các đơn-vị này đóng tại những nơi trên. Các Hải-đoàn này bắt đầu hoạt-động cuối năm 1953.

Vào đầu năm 1954, thêm một Hải-đoàn Xung-phong thứ ba được thành-lập, dự-chiến tại miền Trung-châu Bắc-Việt.  

T́nh-trạng Hải-Quân Việt-Nam trong hai năm 1953-1954

Sau những khó khăn như đă kể trên, cuối cùng Hải-Quân Việt-Nam cũng được kể là bắt đầu hoạt-động vào 10 tháng 4 năm 1953. Chỉ có 5 giang-đĩnh trang-bị đại-liên 50 và đại-bác 20 ly, trên lư-thuyết qua tay Việt-Nam tại Cần-Thơ. Thực-tế vẫn c̣n người Pháp trên tàu, Sĩ-Quan và Hạ-Sĩ-Quan Pháp c̣n chỉ-huy, nhưng chiến-đĩnh được phép mang cờ Việt-Nam. Hải-đoàn được trang bị một soái-đĩnh (LCM Commandement), hai Trung-vận-đĩnh (LCM - Landing Craft Mechanized) và hai Tiểu-vận-đĩnh (LCVP - Landing Craft Vehicle and Personnel). Qua mùa hè, một đoàn như vậy thành-h́nh tại Vĩnh-Long.

Tuy tinh-thần phấn-khởi nhưng Hải-Quân Việt-Nam c̣n phải vượt nhiều chặng đường nữa trước khi trưởng-thành. Hải-Quân bị ép trong tổ-chức hỗn-hợp giữa Pháp và Việt, lại bị kẹp giữa một loại quân-lực mà uy-thế lấn-áp bởi Lục-quân. Bộ Tham-mưu Liên-quân này lại toàn-quyền chi-phí mọi ngân-khoản, điều-khiển mọi hoạt-động. Về quân-số, Hải-Quân lúc đó rất nhỏ nhoi, chỉ chiếm vào khoảng 1/2 của một phần trăm quân-lực. Thêm nữa, thượng-cấp Việt và thượng-cấp Pháp lại muốn hướng Hải-Quân Việt-Nam đi theo các kế-hoạch khác nhau. T́nh-trạng Hải-Quân lúc đó không những đă yếu ớt mà c̣n bị xé lẻ ra nữa! 

Kéo cờ Tổ-Quốc

Sau khi đơn-vị Hải-Quân thứ nh́ tại Vĩnh-Long ra hoạt-động vào tháng 6/1953, sự tranh-luận về Quốc-kỳ trên các chiến-đỉnh bộc-phát giữa hai chính-phủ Việt, Pháp.

Như đă nói, trên các chiến-đĩnh tại Cần-Thơ và Vĩnh-Long tuy mang Quốc-kỳ Việt Nam nhưng vẫn c̣n người Pháp. Trong khi đó tại Trung-tâm Huấn-luyện Hải-Quân Nha Trang, một Giang-pháo-hạm (LSIL - Landing Ship, Infantry, Large) trên giấy tờ do Pháp chuyển-giao vào cuối tháng 4, lại vẫn tiếp-tục mang cờ Pháp trên kỳ-đài.

Hải-Quân Việt-Nam nhất-quyết đ̣i phải được kéo quốc-kỳ vàng ba sọc đỏ trên kỳ-đài tất cả các chiến-hạm, chiến-đĩnh sau khi chuyển-giao. Người Pháp c̣n hiện-diện và đôi khi nắm luôn cả quyền chỉ-huy đơn-vị Hải-Quân Việt-Nam. Người Pháp đă đưa ra nhiều đề-nghị như treo một cờ Pháp, treo hai cờ Pháp-Việt song-hành, hay treo một cờ Liên-Hiệp-Pháp v.v... 

Cho đến ngày 11 tháng 2, vấn đề Quốc-kỳ được giải quyết một cách tạm-thời.  Pháp chuyển giao tiếp cho Việt Nam ba Trục lôi hạm (YMS - Yard Minesweeper): HQ 211 Hàm Tử.- HQ 112 Chương Dương, HQ 113 Bạch Đằng.  

Theo Charles W. Koburger, lời hứa gia-tăng khả-năng chiến-đấu cho Hải-Quân Việt-Nam không được người Pháp thi-hành. Cho đến khi chấm-dứt chiến-tranh vào tháng 7 năm 1954, Việt-Nam chỉ điều-hành có một Giang-pháo-hạm LSIL, một quân-vận-hạm LCU, và chừng 30 tiểu-đĩnh thủy-bộ. Quan-trọng hơn, Hải-Quân vẫn c̣n trong tay người Pháp.  

Các đoàn Tuần-giang và sự H́nh-thành Thủy-Quân Lục-Chiến. 

Những đoạn trên đây tường-tŕnh về những lực-lượng Hải-Quân chính-thức. Tuy nhiên, cần phải-kể đến một tổ-chức Giang-thuyền đă thành-lập từ đầu năm 1951. Tổ-chức này không thuộc Hải-Quân mà thuộc Vệ-binh Quốc-gia, hoạt-động bao trùm trên toàn-thể các vùng sông ng̣i Việt-Nam. Tổ-chức Giang-thuyền lúc đó gồm có hai Liên-đoàn Tuần-giang biệt-lập Nam và Bắc-Việt, và một đoàn Tuần-giang Trung-Việt. 

Liên-đoàn Tuần-giang Nam-Việt thành-lập ngày 1-3-1951, đầu tiên gồm có ba đoàn Tuần-giang, đến cuối năm tổ-chức thêm đoàn Tuần-giang thứ tư. Mỗi đoàn Tuần-giang gồm có ba Trung-đội, mỗi Trung-đội có hai tàu Vơ-đét, riêng đoàn Tuần-giang thứ tư có tới bốn Trung-đội. Nhưng vào giữa năm 1952, qua các sự thiệt hại của những cuộc đụng độ tại rạch Ông Nghĩa và ở sông Thị Vải, đoàn thứ tư này trở lại tổ-chức thông thường như các đoàn khác.

Liên-đoàn Tuần-giang Bắc-Việt cũng được thành-lập kể từ 1-3-1951 bằng quân-số của Bảo-chính-đoàn, lúc đầu có ba đoàn Tuần-giang, nhưng sau các đoàn này bị thiệt-hại và thiếu phương-tiện giang-thuyền nên phải-rút xuống c̣n hai đoàn. Đầu năm 1954, các đoàn c̣n lại tập-trung cả ở Nam Định để tăng-cường cho mặt trận này.

Đoàn Tuần-giang Trung-Việt măi đến 1-9-1951 mới thành-lập, và tuy chỉ là một đoàn nhưng đoàn này đă được tăng thêm Quân-số, cấp thêm phương-tiện so với các đoàn khác.

Các đoàn Tuần-giang tới 30-6-1954 giải-tán và cải-biến thành sáu Đại-đội Tuần-giang (cies fluviales). Sau ngày đ́nh-chiến, các Đại-đội Com-măng-đô Bắc-Việt và lực- lượng Tuần-giang (force fluviale) chuyển vào Nam vĩ-tuyến 17, được lệnh phối-hợp cùng các Đại-đội Com măng đô Nam-Việt để thành-lập lực-lượng Hải-Quân Bộ-binh (Infanterie Marine).

Lực-lượng Hải-Quân Bộ-binh thành-lập do Nghị-định số 99/ND ngày 13-10-1954, và sau đó kể từ ngày 1-1-1955 các Đại-đội Tuần-giang số 1, 2, 3, 4, và 7 được chính- thức sát-nhập vào lực-lượng này, để khởi đầu cho việc thành-lập một đoàn quân lấy tên là "đoàn Thủy-Quân Lục-Chiến", trực-thuộc Quân-chủng Hải-Quân. 

Tổ-chức Điều-hành Hỗn-hợp

Đầu năm 1955, Hải-Quân-Việt-Nam vẫn do Sĩ-Quan Pháp điều-khiển, nhưng các chiến-hạm bắt đầu được chuyển-giao. Tới 20-8 phụ-tá Hải-Quân-thuộc Bộ Tổng- Tham-Mưu mới nắm quyền điều-khiển ngành Hải-Quân. Lần lần từ đó, quyền chỉ-huy trên các chiến-hạm dành cho-Việt-Nam được chuyển-giao cho Sĩ-Quan Việt-Nam điều-khiển, nhưng sự chuyển quyền này so với Không-Quân chậm hơn. Cho đến khi khai-diễn chiến-dịch Rừng Sát (9-1955), Hải-Quân chưa hoàn-toàn thoát ra khỏi sự lệ-thuộc của Pháp .

Do sự chuyển-giao của Pháp tới cuối năm 1955, Hải-Quân-Việt-Nam gồm có:

- Hải-đoàn Xung-phong số 21 (Mỹ Tho)

- Hải-đoàn Xung-phong số 23 (Vĩnh Long)

- Hải-đoàn Xung-phong số 24 (Saigon)

- Hải-đoàn Xung-phong số 25 (Cần Thơ)

- 3 căn cứ Hải-Quân: Saigon, Cát Lái và Đà Nẵng

- 4 đồn Thủy-quân: Mỹ Tho, Cần Thơ, Vĩnh Long, Long Xuyên.

- Trung-tâm Huấn-luyện Nha-Trang

- Hải-Quân Công-xưởng Ba Son

- Kho đạn Thành Tuy-Hạ.

Trước đó, có Hải-đoàn Xung-phong số 22 thành-lập và di-chuyển từ miền Bắc vào, nhưng Hải-đoàn này bị tan nát không c̣n bao nhiêu nên đă sát-nhập vào Hải-đoàn 21.

Về tổ-chức, các Hải-đoàn không được giống nhau, đại-để mỗi Hải-đoàn có từ 5 đến 7 Giang-vận--đĩnh, 1 Giang-vận-hạm hay Giang-pháo-hạm v.v... Các Hải-đoàn khi mới thành-lập gọi theo nơi trú-đóng, sau đổi thành số 1, 2, 3 ... và cuối cùng đổi thành các danh-hiệu như trên.

Rút kinh-nghiệm trong trận Rừng Sát, các Đại-đội Giang-thuyền lần lần giải-tán để biến thành Tiểu-đoàn thứ hai Thủy-Quân Lục-chiến khoảng đầu tháng 2-1956. Vào lúc này, lực-lượng Thủy-Quân Lục-chiến gồm có hai Tiểu-đoàn, một bộ Chỉ-huy, năm Đại-đội Khinh-binh Trợ-chiến, một Biệt-động-đội (corps franc) và một Phân Thủy-đội Thao-dượt (flottille d'entrainement). 

Bảng Cấp-số lư-thuyết Hải-Quân 1955 và Trang-bị thực-sự

Sau hôi-nghị Genève 1954, đất nước bị chia cắt, vùng đất Tự-Do chỉ c̣n lại từ sông Bến-Hải trở về Nam đến mũi Cà Mâu. Trong khi quân-số toàn-thể Quân-Đội bị cắt giảm, Hải-Quân không chịu ảnh-hưởng. Vào tháng 7-1955, bảng Cấp-số lư-thuyết của Hải-Quân được chấp-thuận với Quân-số 4,250 người. Khi đó, Hải-Quân đă có một Quân-số hiện-diện 3,858 người (khoảng 91% cấp-số), phân chia ra như sau:

- Hải-Quân-chính-thức 2,567 gồm 190 Sĩ-Quan, 2,377 Hạ-Sĩ-Quan và Thủy-thủ.

- Thủy-Quân-Lục-chiến 1,291 gồm 43 Sĩ-Quan, 257 hạ Sĩ-Quan và 991 Binh-Sĩ. 

 

Lưc-lượng Hải-Quân-Việt-Nam khi Pháp rút lui

Trước khi rút lui, Pháp đă để lại cho Hải-Quân-Việt-Nam một số Giang-thuyền và Hải-thuyền, cộng thêm với những Giang-thuyền của các đoàn Tuần-giang sát-nhập lại, Hải-Quân Việt-Nam đạt tới những con số như sau:

- 2 Hải-vận-hạm (LSM = Landing ship médium)

- 3 Hộ-tống-hạm (PCE = Patrol craft escort) = (Landing ship infantry large)

- 1 Tàu thủy-đạo (bâtiment hydrographe)

- 3 Trục-lôi-hạm (dragueur)

- 2 Trợ chiến-hạm (LSSL = Landing ship support large)

- 5 Giang-pháo-hạm (LSIL= Landing ship infantery large) 

- 4 Giang vận-hạm (LCU = Landing craft utility)

- 2 Tuần-duyên-hạm (garde côte)

- 70 Quân-vận-đĩnh (LCM = Landing craft mechanized) trong số này có 2 Tiền-phong-đĩnh (LCM monitor), 4 Chỉ-huy-đĩnh (LCM de commandement), 53 Quân-vận-đĩnh bọc thép (LCM blindé) và 11 Quân-vận-đĩnh loại nhẹ (LCM léger).

- 95 Vơ-đét trong đó có 17 loại ứng-chiến (Vedette d'interception), 1 Vơ-đét canh-pḥng (Vedette de surveillance), 6 loại Y, 36 loại STCAN, 12 loại FOM dài 8m và 23 loại FOM dài 11m.

- 100 LCVP (loại tàu nhỏ tựa loại Vơ-đét chở dược 6 người) trong đó có 81 loại b́nh thường và 19 loại nhẹ.

- 15 Sà-lan trong đó một Sà-lan máy, 1 Sà-lan chở nước và 13 Sà-lan thường.

- 3 Thuyền kèm (remorqueur)

Phần lớn chiến-hạm đă cũ và có nhiều cái không dùng được. 

Hành-Quân-Rừng-Sát và Chức-vụ Tư-Lệnh Hải-Quân

Cuộc Hành-quân-Rừng-Sát loại-trừ tàn-quân B́nh Xuyên đáng lẽ được tiến-hành từ tháng 7-1955, nhưng măi tới trung-tuần tháng 9 mới khai-diễn, bởi v́ lúc ấy Quân-đội chưa hoàn-toàn sử-dụng được Hải-Quân để bao vây khu Rừng Sát. Lúc đó, Quân-đội-Việt-Nam chỉ mới có Hải-đoàn Xung-phong số 21 thuộc quyền điều-khiển của người Việt, do Hải-Quân Thiếu-Tá Lê-Quang-Mỹ làm Hải-đoàn- trưởng.  Các Hải-đoàn khác, tuy đă do người Việt chỉ-huy, nhưng vẫn trực-thuộc bộ Chỉ-huy Giang-lực (COFFLUSIC) của Pháp; nếu Việt-Nam muốn sử-dụng các Hải-đoàn này, phải xin người Pháp. Cuối cùng BTTM đă phải-can thiệp với Pháp, để xin sử-dụng và đă được Pháp chấp-thuận với điều-kiện tránh tiếng cho Pháp bằng cách đặt tất cả các Hải-đoàn tham-chiến dưới quyền chỉ-huy tạm-thời của Thiếu-tá Mỹ. Sau cuộc Hành-quân này, Thiếu-tá Mỹ trở thành Tư-lệnh Hải-Quân đầu tiên của Việt-Nam.

Trong những năm đầu mới thành-lập, Sĩ-quan Hải-Quân cao-cấp nhất là vị Phụ-tá Hải-Quân cạnh Tổng-Tham-Mưu-Trưởng. Các Sĩ-Quan Hải-Quân Việt-Nam chỉ mới tốt-nghiệp, thâm-niên cấp-bậc c̣n quá thấp, không đủ để nắm giữ chức-vụ này. 

Vào ngày 30 tháng 6, 1955, Thủ-Tướng Ngô Đ́nh Diệm bổ-nhiệm Thiếu-Tướng Trần-Văn-Đôn chỉ-huy Hải-Quân. 

Sau khi thành-lập chế-độ Việt-Nam Cộng-Hoà, tổ-chức quân-đội được cải-tiến. Hải-Quân và Không-Quân được nâng lên hàng quân-chủng. Ngày 20 tháng 8, 1955 bằng một nghị-định chính-thức, Thủ-Tướng Ngô-Đ́nh-Diệm bổ-nhiệm Phụ-tá Hải-Quân, Hải-Quân Thiếu-Tá Lê-Quang-Mỹ vào chức-vụ Tư-Lệnh Hải-Quân kiêm Chỉ-huy-trưởng đoàn Thủy-Quân Lục-Chiến.

 

Trường-hợp Thủy-Quân Lục-Chiến và Tổ-Chức Hải-quân

Thủy-Quân Lục-Chiến được chính-thức thành-lập ngày 1 tháng 10 năm 1954 như một Binh-Chủng thuộc Hải-Quân. Tuy-nhiên trước đó, vào tháng 8 năm 1954, Tiểu- Đoàn 1 Quái Điểu, con Cọp Biển đầu tiên đă thành-h́nh tại Nha-Trang.

Qua năm 1955, Tiểu-Đoàn 2 Trâu Điên ra đời tại Rạch Dưà, sau di-chuyển về Cam Ranh, tỉnh Khánh Hoà, một Bộ Chỉ-Huy Liên-Đoàn được thành-lập để chỉ-huy hai Tiểu-Đoàn trên.

Song song với đà phát-triển của Quân-Lực Việt-Nam Cộng-Hoà từ năm 1958 đến 1960, Tiểu-Đoàn Sói Biển, Tiểu-Đoàn 4 Ḱnh Ngư được thành-lập; Thủy-Quân Lục- Chiến cải-tiến thành Liên-Đoàn vào năm 1961.

Để yểm-trợ đặc-biệt cho những cuộc hành-quân thủy-bộ, Đại-Đội Yểm-Trợ Thủy-Bộ, Đại-Đội Vận-Tải, Đại-Đội Truyền-Tin, Đại-Đội Quân-Y, v.v... kế-tiếp nhau ra đời. Năm 1962, Tiểu-Đoàn 1 Pháo-Binh thành-h́nh gồm 2 Pháo-Đội 75 ly và 1 Pháo-Đội 105 ly.

Sang năm 1963, Lực-lượng Thủy-Quân Lục-Chiến trở thành Lữ-Đoàn, và được tách rời khỏi sự yểm-trợ tiếp-vận của Bộ Tư-Lệnh Hải-Quân. Thủy-Quân Lục-Chiến trực-thuộc thẳng Bộ Tổng-Tham-Mưu/Quân-Lực Việt-Nam Cộng-Hoà về mọi mặt từ đó. Tư-Lệnh đầu-tiên của Lữ-Đoàn Thủy-Quân Lục-Chiến là Trung-Tá Lê-Nguyên-Khang. 

V́ nhu-cầu chiến-trường, Thủy-Quân Lục-Chiến, cũng như Nhảy Dù trở thành lực-lượng Tổng-Trừ-bị. Đôi khi Thủy-Quân Lục-Chiến có những dịp hoạt-động song-hành với Hải-Quân nhưng không bao giờ c̣n trở lại với tổ-chức của Hải-Quân nữa. Thủy-Quân Lục-Chiến tiếp-tục lớn mạnh, trở thành Sư-Đoàn năm 1968 và là một trong các đại đơn-vị thiện-chiến nhất của Việt-Nam Cộng-Hoà.

Hải-Quân Thuần-túy Việt-Nam

Ngay khi nhậm-chức, Tư-Lệnh Hải-Quân Lê-Quang-Mỹ bổ nhiệm các Sĩ-quan Hải-Quân Việt-Nam vào các chức-vụ chỉ-huy then chốt, thay thế Sĩ-quan Pháp.

Kể từ 1955, mỗi năm Trung-tâm Huấn-luyện Hải-Quân Nha-Trang đào-tạo khoảng 1,200 nhân-sự các cấp.

- Tháng 11 ngày 7, Pháp chuyển-giao Trung-tâm Huấn-luyện Hải-Quân Nha-Trang lại cho Hải-Quân Việt-Nam.

- Tháng 12 ngày 7, để bành-trướng các hoạt-động ở sông rạch, mỗi Hải Đoàn được trang-bị 6 LCM, 4 LCVP và 6 hô bo (hors bord) có vận-tốc cao.

- Hải-Quân tiếp-nhận hai Trợ-chiến-hạm (LSSL - Landing Ship Support Large).

Về quân-số, vào tháng 7 năm 1955, Hải-Quân Việt-Nam có 3858 người, kể cả 1291 Thủy-Quân Lục-Chiến. 

Cũng trong năm này, Hải-Quân thành-lập ba Lực-lượng lớn và tất cả Bộ Chỉ-huy đều đặt tại Sàig̣n.

(1) Hải-Trấn. Gồm có các đon-vị bờ:

- Bốn Duyên-khu; bộ chỉ-huy của mỗi Duyên-khu đặt tại Phú Quốc, Nha Trang, Vũng Tàu, Đà Nẵng.

Trung-tâm Huấn-luyện Nha Trang.

HQCX và các Thủy-xưởng Cần Thơ. Đà Nẵng.

Trung-tâm Tiếp-liệu

(2) Hải-Lực. Gồm có các chiếm-hạm:

- Năm PC (Patrol Craft or Submarine Chaser) Hộ-tống-hạm: Chi Lăng HQ 01, Vạn Kiếp HQ 02, Đống Đa HQ 03, Tuy Động HQ 04 và Tây Kết HQ 05.

- Ba YMS Trục-lôi-hạm: Hàm Tử HQ 111, Chương Dương HQ 112, Bạch Đằng HQ 113.

- Hai LSSL Trợ-chiến-hạm: HQ 225 Nỏ Thần và HQ 226 Linh Kiếm.

- Bốn LSM (Landing Ship Medium) hải vận hạm: Hát Giang HQ 400, Hàn Giang HQ 401, Lam Giang HQ 402, Ninh Giang HQ 403.

- Và 10 WBP (Coast Guart Patrol Cutters).

(3) Giang-Lực. Gồm 5 Hải đoàn. Mỗi Hải-đoàn được trang-bị 5 Quân-vận-đỉnh (LCM - Landing Craft, Mechanized), 4 Trung-vận-đỉnh (LCVP - Landing Craft, Vehicle and Personnel), 5 Hô bo có vận-tốc nhanh, 4 Giang-pháo-hạm (LSIL - Landing Ship, Infantry, Large), 5 Hải-vận-đỉnh (LCU - Landing Craft Utility) và 4 YTL (Harbor Craft). Hău-cứ các Hải-đoàn được đặt tại Cần Thơ, Mỹ Tho, Vĩnh Long, Long Xuyên. Cát Lái.

(4) Thủy-Quân Lục-Chiến. Kể từ ngày 21 tháng 12 , Tư- Lệnh Hải-Quân Việt-Nam Lê-Quang-Mỹ công-bố sự h́nh-thành của Thủy-Quân Lục-Chiến Việt Nam như là một đại đơn-vị Hải-Quân. 

Những ngày cuối của Hải-Quân Pháp

Lực-lượng Hải-Quân Pháp tại Viễn-Đông (Forces Navales, Extrême-Orient: viết tắt FNEO) chính-thức giải-tán vào ngày 26 tháng 4, 1956. Một số Sĩ-Quan và Đoàn-viên người Pháp làm việc chung với đơn-vị Việt-Nam cũng vẫn c̣n.

-1956

Lực-lượng Hải-thuyền Việt-Nam được đề-xướng nhưng chưa được phê-chuẩn.

Hải-Lực nhận thêm 3 Giang-pháo-hạm (LSIL) để có đủ 5 chiếc: Long Đạo HQ 327, Thần Tiễn HQ 328, Thiên Kích HQ 329, Lôi Công HQ 330, Tầm Sét HQ 331.

- 1957

Tháng 5, các Sĩ-quan Hải-Quân Pháp cuối cùng rời Trung-tâm Huấn-luyện Hải-Quân Nha Trang, giao hoàn-toàn trọng-trách huấn-luyện lại cho các Sĩ-quan Hải-Quân Việt-Nam.

Hải-Quân Việt-Nam nhận thêm nhiều Modified Landing Craft (loại tiểu-đĩnh có khả-năng chạy trên sông và trên ruộng lúp xúp nước), 2 Quân vận đĩnh (LCM), 2 Hộ tống hạm (PC - Patrol Craft) và 3 Trục-lôi-hạm (MSC - Minesweeper, Coastal).

Hầu hết các giang-đĩnh và chiến-hạm này đều do Hoa-Kỳ viện-trợ cho Pháp trong thời-kỳ chiến-tranh Đông-Dương và nay Pháp giao lại cho Việt-Nam. Khi chuyển-giao các chiến-hạm và tiểu-đĩnh đó lại cho Hải-Quân Việt-Nam, nhân-viên Hải-Quân Pháp đă phá-hoại một số trang-cụ bằng cách bỏ cát trong dầu chạy máy hoặc nhận bùn vào các ống dẫn dầu khiến một số chiến-cụ chỉ sử-dụng được một thời-gian ngắn rồi phế-thải!

Năm 1957 là thời-gian Hải-Quân tăng-trưởng: toàn-thể hải-quân có 4,800 người. Đặc-biệt Giang-Lực tăng 50 phần trăm. 

Giai-Đoạn 2 - Phát-triển (1958-1968)

Giai-Đoạn Phát-triển được kể từ khi người Pháp rút hết.

Diễn-tiến 1958-1963

Năm 1958 - khóa Sĩ-quan Hải-Quân đầu tiên được tuyển-mộ và huấn-luyện bởi chính Sĩ-quan Hải-Quân Việt-Nam: Khóa VIII, Hổ Cáp.

Năm 1959 - Lực-lượng Hải-Thuyền được thành-lập.

Giang-lực có tổng-cộng 96 Giang-đĩnh, tổ chức thành 5 Hải-đoàn. 

Hải-Lực nhận thêm ba Trục-lôi-hạm (MSC): HQ 114 Hàm Tử II, HQ 115 Chương Dương II, HQ 116 Bạch Đằng II. Thời-gian này, Hải-Quân Việt-Nam có tất cả 119 chiến-hạm và chiến-đĩnh các loại.

Nhiều Sĩ-quan, Hạ-sĩ-quan được gởi sang Hoa-Kỳ tu-nghiệp. Các Sĩ-quan cao-cấp tu-nghiệp tại Naval War College ở Newport, Rhode Island. Vị Sĩ-quan đầu tiên theo học tại Naval War College là Hải-Quân Trung-Tá Trần Văn Chơn. Một số Sĩ-quan trung-cấp tu-nghiệp tại Naval Postgraduate School ở Monterey, California.

Năm 1960 - Thêm bốn mươi Sĩ-quan và sáu mươi Hạ Sĩ-quan được gởi sang Hoa-Kỳ tu-nghiệp.

Hải-Quân Việt-Nam cũng gởi một toán t́nh-nguyện quân sang Đài-Loan thụ-huấn về U.D.T. (Underwater Demolition Teams) để trở thành những Biệt-hải đầu tiên của Hải-Quân.

- Tháng 4 ngày 2, 45 tân Sĩ-quan Hải-Quân khóa VIII Hổ Cáp ra trường.

Cũng trong năm này, Lực-lượng Hải-Thuyền thực-sự ra đời.

- Tháng 7, khóa đầu tiên với 400 đoàn-viên Hải- Thuyền được tuyển-mộ và huấn-luyện tại Đà Nẵng, dưới sự chỉ-huy của Hải-Quân Trung-Uư Nguyễn Văn Thông.

- Tháng 12, bốn Duyên-Đoàn đầu tiên được thành- lập và đóng tại Cửa Việt, Huế, Đà Nẵng và Hội An.

Thời-gian này, Lực-lượng Giang-Cảnh cũng được thành lập. 

Hải-Quân Trung-Tá Chung Tấn Cang là vị Sĩ-quan thứ hai được tu-nghiệp tại Naval War College. Từ năm này trở về sau, mỗi năm, một Sĩ-quan cao-cấp Hải-Quân theo học tại Đại-học Quân-sự này.

Hải-Quân nhận 1 PC (Patrol Craft), Hộ-tống-hạm Vân Đồn HQ 06.

- 1961 - Liên-đội Người Nhái được thành-lập.

Chương tŕnh MAP (Military Assistance Program) chấp-thuận 406 Sĩ-quan Hải-Quân Việt-Nam du-học Hoa Kỳ về tất cả các ngành chuyên-môn về Hải-Quân. Ngoài ra, nhiều Sĩ-quan được đưa ra thực-tập trên các chiến-hạm thuộc Đệ Thất Hạm-Đội Hoa-Kỳ.

Lúc này, Hải-Quân Việt-Nam có gần sáu ngàn quân, kể các Sĩ-quan, Hạ-Sĩ-quan và Đoàn-viên.

Lực-lượng Hải-Thuyền có 80 ghe đủ các loại, tuần-tiễu từ Vùng I Duyên-hải, bên này vĩ-tuyến 17.

Hải-Lực nhận:

- 1 PCE (Patrol Craft Escort) Hộ-tống-hạm Đống Đa II, HQ 07.

- 3 MSC (Minesweeper, Coastal) Trục-lôi-hạm Hàm Tử II HQ 114, Chương Dương II HQ 115, Bạch Đằng II HQ 116.

- 1 LSM (Landing Ship, Medium) Hải-vận-hạm Hương-Giang HQ 404. Tổng-số chiến-hạm của Hải-Lực là 21 chiếc.

- 1962 - Tháng 2, Bộ chỉ huy lực lượng Giang Pḥng được thành lập và đặt trực thuộc Bộ Tư Lệnh Địa Phương quân.

Lực lượng Hải Thuyền bành trướng với 800 đoàn viên, 28 duyên đoàn, 61 ghe chủ lực, hơn 200 ghe di cư, 320 ghe buồm và 23 ghe chủ lực đang đóng. Gh3 chủ lục chạy bằng dầu cặn, máy 225 mă lực.

- Tháng 6,Lực-lượng Giang-Pḥng nhận 145 LCVP để lập thành 24 đại đội Tuần-Giang.

- Tháng 8, Trung-tâm Huấn-luyện Hải-Quân Nha Trang tuyển chọn gấp đôi số sinh-viên (từ 50 sinh viên mỗi khóa tăng lên 100 sinh viên) và thời-gian thụ-huấn được rút ngân c̣n 18 tháng, thay v́ hai năm như các khóa trước.

- Tháng 10, sáu mươi hai Người Nhái tốt nghiệp, do sự huấn luyện của SEAL Hoa Kỳ.

Cũng thời gian này, Hải đoàn 22 Xung Phong được thành lập với 19 chiến đỉnh và hơn 200 đoàn viên.

Hải Lực tiếp nhận:

- 2 PCE (Patrol Craft Escort) hộ tống hạm Chi Lăng II HQ 08, Kỳ Ḥa 09.

- 1 LSM (Landing Ship Medium) hải vận hạm Tiền Giang HQ 405.

- 2 LST (Landing Ship, Tank) Dương vận hạm Cam Rang, HQ 500; Dương vận hạm Đà Nẵng, HQ 501.

- 1963 - Năm thủy xưởng được thành lập tại các Duyên khu. Trung tâm huấn luyện Hải Thuyền tại Phú Quốc được dời về Cam Ranh.

Hải Lực nhận:

- Vài Tuần-duyên-hạm (PGM - Patrol Motor Gunboat) trong số 12 PGM được chương-tŕnh MAP chấp-thuận, mang số từ HQ 600 đến HQ 611.

- 1 LSM Hải vận hạm Hậu Giang, HQ 406.

- 1 LST Dương vận hạm Thị Nại, HQ 502.

- 1 YOG (Gasoline Barge, Self-propelled) tàu dầu HQ 471.

- 2 Hộ-tống-hạm (Nguyên thủy là MSF- Minesweeper, Fleet: MSF 300 Serene và MSF 301 Shelter. Hải Quân Hoa Kỳ biến cải thành hộ tống hạm, PC -Patrol Craft).

- 12 MLM (Minesweeping Launch) mang số từ HQ 150 đến HQ 161.

Giang Lực nhận 24 monitors, một số LCVP, nâng tổng số giang đỉnh lên 208 chiếc.

Thủy-Quân Lục-Chiến trở thành Lực-lượng Tổng-Trừ-Bị

Trong năm 1963, Hải-Quân Việt-Nam mất quyền Chỉ-huy Thủy-Quân Lục-Chiến. Khi đó, Lực-lượng náy đă trở thành Lữ-Đoàn và được đặt trực-thuộc thẳng Bộ Tổng-Tham-Mưu/Quân-Lực Việt-Nam Cộng-Hoà. Quan-niệm sử-dụng TQLC của Pháp, của Mỹ và của Việt-Nam khác nhau. Lực-lượng này từ các đội giang-thuyền nhỏ bé, sau cùng rời bỏ hẳn chiến-đĩnh để đảm-nhiệm vai tṛ Tổng-trừ-bị cho Quân-lực với cấp-số Sư-Đoàn.

Nhận-xét về liên-hệ Thủy-Quân Lục-Chiến và Hải-Quân, các sử-gia có thể cho rằng quân-chủng Hải-Quân suy-yếu khi mất quyền chỉ-huy Thủy-Quân Lục-Chiến. Tuy thế, khi xem xét lại t́nh-thế Việt-Nam Cộng-Hoà năm 1963 , người ta thấy nhờ vậy mà tổ-chức Hải-Quân Việt-Nam trở nên đồng-nhất và truyền-thống quân-chủng được nâng-cao.

Sự đồng-nhất Học-vấn trong Hải-quân Việt-Nam

Trong giai-đoạn thành-h́nh khó khăn, Hải-quân Việt-Nam được huấn-luyện chu-đáo hơn bất cứ một quân binh-chủng nào.

Ngoại-trừ các đoàn tuần-giang loại phụ-lưc, các đội Commandos như Ouragan, Tempête, Jaubert, Monford... mang tính-cách phức-tạp sau này trở thành Thủy-Quân Lục-Chiến, Hải-Quân Việt-nam ngay từ lúc khởi đầu là một tổ-chức thuần-nhất về bản-chất. Các quân-nhân Hải-Quân không có sự quá cách biệt về tŕnh-độ học-vấn và kỹ-thuật.

Sau khi tham-khảo công-báo Việt-Nam, một giáo-sư sử-học đă viết như sau;

Vào thời-gian 1952, ứng-tuyển-viên vào trường Vơ-bị Liên-quân Đà Lạt chỉ cần nạp chứng-chỉ học-tŕnh lớp Đệ Nhị... Riêng ngành Hải-Quân, căn-cứ theo sự tham-khảo của chúng tôi từ Công-Báo, khi vào trường Sĩ-Quan tối-thiểu phải có Tú-tài 1 trở lên hoạc là sinh-viên tốt-nghiệp trường Cao-đẳng Hàng-hải thuộc hệ-thống Đại-học Sài-G̣n. Thành-phần Hạ-Sĩ-quan và kể cả Thủy-binh cũng đ̣i hỏi có một tŕnh-độ học-vấn bậc Trung-học... Bằng cấp lúc ấy rất hiếm và rất quư, có bằng Tú-tài lúc ấy là một điều quan-trọng, rất dễ dàng tiến thân. 

Diễn-tiến 1964-1967

- 1964 - Lực-lượng Hải-tuần được thành-lập, trực-thuộc Sở Pḥng-Vệ Duyên-Hải.

Một Hải Quân Trung uư và hầu hết nhân viên thuộc Biệt hải được biệt phái Sở Pḥng Vệ Duyên Hải.

- Tháng 1, Hải Quân có 6.467 Sĩ-quan và Đoàn-viên.

- Tháng 2 ngày 22, hai PT (Motor Torpedo Boat) đầu tiên đến Đà Nẵng, đặt dưới sự sử-dụng của Lực-lượng Hải-tuần, thuộc Sở Pḥng-Vệ Duyên-Hải.

- Tháng 6, danh xưng Bộ Chỉ-huy Lực-lượng Giang- pḥng được đổi thành Bộ Chỉ-Huy Liên-Đoàn Tuần-Giang và được đặt trực thuộc Bộ Tư-lệnh Hải Quân.

- Tháng 11, Hải Quân tăng lên 8,162 Sĩ-quan và Đoàn-Viên.

Trung tâm huấn luyện kỹ thuật Hải Quân (Engineering School) từ Sàig̣n được dời ra Cam Ranh. Từ đó, Thủy-Quân Lục-Chiến tuần-tự chuyển-nhượng căn-cứ Cam Ranh lại cho Hải Quân.

- 2 PGM cuối cùng trong số 12 PGM được tiếp- nhận, Tuần-duyên-hạm Diên Hải HQ 610 và tuần duyên hạm Trường Sa HQ 611. Tổng số chiến hạm là 44 chiếc.

- 2 PCE Hộ-tống-hạm Nhựt Tảo HQ 10 và Chí Linh HQ 11.

Ghe buồm của lực-lượng Hải-Thuyền được từ từ thay thế bằng ghe xin măng Yabuta (Ferro ciment, đóng tại Hải Quân Công Xưởng.

Thời điểm này Giang Lực lớn mạnh với 7 Hải Đoàn. Mỗi Hải đoàn có 19 giang đỉnh.

Cũng trong năm này, các căn cứ lớn được thành lập tại các hải cảng quan trọng như Cam Ranh, Đà Nẵng, Phú Quốc v.v...

1965: - Tháng 7, Lực-Lượng Hải-Thuyền được sát- nhập vào Hải-Quân với 4 ngàn nhân-viên, 389 ghe chủ-lực, 95 ghe buồm, chia làm 28 Duyên-đoàn rải rác tại 22 căn-cứ Hải-Quân. Mỗi Duyên-đoàn trang-bị 3 ghe chủ-lực, 3 ghe di-cư và 16 ghe chèo. Về sau tất cả được từ từ thay thế bằng Yabuta).

Lúc này Hải Lực có hai ngàn quân, kể cả Sĩ-quan và Đoàn viên. Các LSIL và LSSL lưu-động tuần-tiễu trên sông Mekong. Một trong các Giang-pháo hạm và Trợ-chiến-hạm này được biệt-phái cho Đặc-khu Rừng Sát. Ba LST và vài LSM được sử-dụng để chuyên chở quân-dụng. Một LSM (HQ 400) được chỉnh-trang thành Bệnh-viện-hạm với đầy đủ y-dụng. Hải-Lực tiếp-nhận thêm bốn Trợ chiến hạm (LSSL): HQ 228, HQ 229, HQ 230, HQ 231.

Lúc bấy giờ quân-số Hải-Quân tổng cộng là 13 ngàn, kể cả Sĩ-quan, Hạ-sĩ-quan và Đoàn-viên. Bảy Sĩ-quan được gởi sang Hoa-Kỳ tu-nghiệp tại Naval Postgraduate School.

Cũng trong năm này, danh từ Hải-đoàn Xung-Phong được thay bằng Giang-đoàn Xung-Phong (River Assault Group). Sáu trong bảy Giang-Đoàn này được trang-bị: 1 Commandement, 1 Monitor, 5 LCM, 6 LCVP và 6 FOM (Truy-kích-đĩnh). Riêng Giang-đoàn 27 có 1 Commandement. 1 Monitor, 6 LCM-8 và 10 tiểu-đĩnh (RPC - River Patrol Craft).

Mỗi Giang-đoàn có 150 người, gồm Sĩ-quan, Hạ-sĩ-quan vắ Đoàn-viên.

1966 - Hải-Lực tiếp-nhận một số chiến-hạm: Măt PCER Ngợc Hồi HQ 12, bốn PGM, từ HQ 612 đến HQ 615.

1967 - Hải-Quân Việt-Nam Cộng-Hoà - với nhân-số gần chín ngàn Sĩ-quan, 27 ngàn Hạ-sĩ-quan và Đoàn-viên - là một lực-lượng Hải-quân lớn và hàng thứ 14 trên toàn thế-giới.

Hải-Lực nhận 4 PGM, từ HQ 616 đến HQ 619.

 

Giai-đoạn 3 - Bành-trướng (1968-1975)

Vào đầu năm 1968, Việt-Cộng mở cuộc Tổng Công Kích - Tổng Khởi Nghiă trên khắp lănh-thổ của Việt-Nam Cộng-Hoà trong Tết Mậu Thân 1968, Hải-Quân bảo-toàn lực-lượng, không bị thiệt-hại ǵ đáng kể,  lại yểm-trợ đắc-lực quân bạn tái-chiếm nhiều vị-trí...

1968 - Kể từ tháng 2 năm 1968, Trung-Tâm Huấn-Luyện Hải-Quân Nha-Trang trở thành Trung-Tâm Huấn-Luyện Sĩ-Quan Hải-Quân Nha-Trang. Trung-Tâm Huấn-Luyện Cam Ranh đào-tạo Thủy-thủ và Hạ-sĩ-quan. Trung Tâm Huấn-Luyện Bổ-Túc Sài-G̣n trau dồi thêm về kỹ-thuật và kiến-thức chuyên-môn.

Tháng 6, Giang-Lực nhận nhiều PBR (River patrol boat theo tinh-thần viện-trợ cuả chương tŕnh MAP (Military Assistance Program).

Tháng 11, chương tŕnh "Việt-Nam hoá chiến-tranh" (Accelerated Turnover to the Vietnamese - ACTOV) chuyển nhượng 500 chiến-hạm và chiến-đĩnh đủ loại. Nhiều Tiền-doanh Yểm-trợ cũng được bàn-giao cho Hải-Quân Việt-Nam theo tinh-thần chương-tŕnh Accelerated Turnover of Logistics to the Vietnam.

1969 - Ba Lực-lượng tác-chiến sông ng̣i được thành-lập: Lực-Lượng Tuần-Thám, Lực-Lượng Thủy-Bộ, Lực-Lượng Trung-ương.

Liên-đội Người Nhái trở thành Liên-đoàn Người-Nhái.

Hải-Lực được chuyển-nhượng LST Vũng Tàu HQ 503 và Duyên-Pḥng nhận 8 WPB mang số từ 700 đến 707.

1970 - Các chiến-hạm, chiến-đĩnh sau đây được trao cho Hải-Quân Việt-Nam:

- 1 Hộ-Tống-hạm (MSF) Hà Hồi, HQ 13.

- 2 Hoả-Vận-hạm (YOG) HQ 472 và HQ 473.

- 3 Dương-Vận-hạm (LST) Qui Nhơn, HQ 504, Nha Trang HQ 505, Mỹ Tho HQ 800.

- 18 WPB, mang số từ 708 đến 725.

- PCER Vạn Kiếp HQ 14.

Ngoài ra, theo chương-tŕnh ACTOV (Accelerated Turnover of Accets), Hải-Quân Hoa-Kỳ chuyển-nhượng 242 chiến-đĩnh.

1971 - Hải-Quân Hoa-Kỳ chuyển-giao cho Hải Quân Việt-Nam:

- Hai Khu-truc-hạm Tiền-thám (DER - Radar Picket Escort) Trần Hưng Đạo HQ 1, Trần Khánh Dư, HQ 4.

- Bốn Tuần dương hạm (WHEC) Trần Quang Khải HQ 02, Trần Nhật Duật HQ 3, Trần B́nh Trọng HQ 5, Trần Quốc Toản HQ 6.

- Hai Dương-vận-hạm loại Cơ-Xưởng (LST) Cần Thơ HQ 801, Vĩnh Long HQ 802.

* 1972 - Hải Quân Việt Nam nhận tiếp:

- Ba Tuần-dương hạm (WHEC) Phạm Ngũ Lăo HQ 15, Lư Thường Kiệt, HQ 16, và Ngô Quyền, HQ 17.

- Một Hoả-vận-hạm, HQ 475.

- Và hầu hết các Căn cứ Hải Quân do Hải-Quân Hoa Kỳ ™ỉ lỨi.

Bốn Sĩ-quan tu-nghiệp tại "Naval Postgraduate School".

* 1973 - Sáu Sĩ-quan sang Hoa Kỳ tu-nghiệp tại "Naval Postgruate School".

* 1974 - Năm Sĩ-quan tu-nghiệp tại "Naval Postgraduate School".

* 1975 - Mười chín Sĩ-quan tu-nghiệp tại "Naval Postgraduate School". Một Sĩ-quan cao-cấp tu-nghiệp tại "Naval War College". Các Sĩ-quan này bị kẹt lại Hoa-Kỳ khi Nam Việt-Nam thất-thủ.

Thời-gian này Lực-lượng Hải-Quân Việt-Nam gồm:

- Năm vùng Duyên-hải.

- Hai vùng Sông-ng̣i.

- Hạm-đội với 83 chiến-hạm các loại, 650 Sĩ-quan, 7 ngàn Hạ-sĩ-quan và Đoàn-viên. Mỗi chiến-hạm có ít nhất mộ Sĩ-quan Cơ-khí.

- Bốn Lực-lượng đặc-nhiệm thuộc Hành-quân Lưu-động Sông:

Lực-Lượng Thủy Bộ (Đặc-nhiệm 211)

Lực-Lượng Tuần-Thám (Đặc-nhiệm 212)

Lực-Lượng Trung-ương (Đặc-nhiệm 214) và

Lực-Lượng Đặc-nhiệm 99 (được thành-lập cấp-tốc vào tháng 4/ 1975).

- Lực-lượng Duyên-pḥng (Đặc-nhiệm 213) thuộc Hành-quân Lưu-động Biển.

- Liên-đoàn Tuần-giang.

- 28 Duyên-đoàn.

- 20 Giang-đoàn Xung-Phong.

- Ba Trung-Tâm Huấn-Luyện.

- Hải-Quân Công-Xưởng tại Sài-G̣n và các thủy- xưởng khác.

- Nhiều Căn-cứ Tiền-doanh yểm-trợ rải rác khắp năm vùng Duyên-hải và hai vùng Sông ng̣i.

- Bệnh-xá Bạch Đằng trang-bị đày đủ y-cụ, đối-diện Hải Quân Công Xưởng.

Quân-số Hải-Quân lên đến mức tối-đa bốn mươi ba ngàn người.